Hầu hết những người mắc bệnh viêm gan B đều đắm chìm trong cảm giác tự ti. Bởi vì họ sợ người xung quanh để ý, không dám ăn cùng nhau, không dám vui vẻ cùng nhau, không dám tỏ tình với người mình thích. Dù vô cùng cẩn thận nhưng họ vẫn nhận được không ít ánh nhìn khinh thường.
Trên thực tế, nhiều người coi viêm gan B như một “cơn lũ và quái vật”, như thể bất cứ ai mắc bệnh viêm gan B đều trở thành nguồn lây lan ung thư gan.
Virus viêm gan B đã tồn tại trên Trái đất quá lâu nên nguồn gốc của nó vẫn chưa được con người khám phá. Vào những năm 1980, số lượng bệnh nhân tăng đột biến do ba yếu tố chính sau:
1. Không đủ nguồn lực y tế và việc tái sử dụng kim tiêm
2. Hoạt động hiến máu không được kiểm soát
3. Điều kiện chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em kém, thiếu công nghệ phòng ngừa lây truyền bệnh viêm gan B từ mẹ sang con một cách rộng rãi
Dữ liệu cho thấy hiện có khoảng 86 triệu người mang virus viêm gan B ở Trung Quốc, trong đó có khoảng 28 triệu bệnh nhân viêm gan B cần điều trị.
Nhìn thấy điều này, một số người có thể nhầm lẫn—không phải người mang virus viêm gan B cũng giống như bệnh nhân viêm gan B sao? Trên thực tế, hai điều này không giống nhau. Nhắc đến khả năng lây nhiễm, chắc hẳn nhiều người sẽ rùng mình nhưng thực tế việc lây truyền không hề dễ dàng như vậy.
Bị nhiễm virus viêm gan B và vẫn có khả năng lây nhiễm. Tuy nhiên, chức năng gan vẫn bình thường và không có triệu chứng rõ ràng. Không cần dùng thuốc nhưng vẫn cần theo dõi chặt chẽ.
Truyền nhiễm, với tình trạng viêm hoạt động, thậm chí có thể tiến triển thành xơ gan và ung thư gan. Cần phải điều trị.
Virus viêm gan B chủ yếu lây truyền qua 3 con đường: đường máu, đường tình dục và đường mẹ sang con.
Truyền máu: Việc này có điều kiện và cần có sự tiếp xúc giữa máu của hai bên mới gây ra sự lây truyền.
Lây truyền qua đường tình dục: Tinh dịch và dịch tiết âm đạo có chứa virus viêm gan B có khả năng lây nhiễm, nhưng điều này không phải là không thể tránh khỏi mà chỉ là nguy cơ lây nhiễm cao hơn ở người bình thường.
Lây truyền từ mẹ sang con: Một số thai nhi bị nhiễm bệnh trong tử cung mẹ, trong khi một số khác bị nhiễm qua tiếp xúc với máu mẹ khi sinh hoặc qua tiếp xúc với sữa, nước bọt có chứa virus viêm gan B sau khi sinh. Tuy nhiên, hiện nay những đứa trẻ khỏe mạnh đã có thể chào đời nhờ công nghệ chặn mẹ-con.
Về vấn đề mà mọi người lo lắng nhất—ăn uống với bệnh nhân viêm gan B—thực ra nó sẽ không lây bệnh.
Vì virus viêm gan B là loại virus chỉ thích tế bào gan nên không thể xâm nhập vào các tế bào ở miệng, thực quản, đường tiêu hóa và đường tiêu hóa của con người cũng thiếu các chất cần thiết cho sự phát triển và sinh sản của virus.
Virus viêm gan B khi ăn vào sẽ bị axit dạ dày tiêu diệt và thải ra ngoài qua phân.
Ngay cả khi chúng lẻn vào máu thì số lượng cũng rất ít. Hơn nữa, hệ thống miễn dịch của người trưởng thành không thể coi thường được - nó hoàn toàn có khả năng loại bỏ những loại vi-rút này.
Còn về việc hôn, nếu răng và miệng của đối phương không có tổn thương niêm mạc hoặc chảy máu do loét miệng thì nhìn chung cũng sẽ không lây bệnh.
Xác suất dùng chung cốc uống nước cũng cực kỳ thấp - gần bằng khả năng đội tuyển bóng đá quốc gia Trung Quốc vô địch World Cup.
Và những cái bắt tay, ôm, ho, hắt hơi... những tiếp xúc hàng ngày này sẽ không lây truyền virus viêm gan B nữa.
Khi người ta mắc bệnh viêm gan B, nhiều người tự động tưởng tượng rằng bệnh xơ gan và ung thư gan không còn xa nữa. Ba điều này thực sự có mối liên hệ nhất định.
Nhưng từ viêm gan B đến xơ gan đến ung thư gan đều có một quá trình thay đổi kéo dài khoảng 10-30 năm.
Nếu điều trị bằng thuốc kháng virus tích cực và hiệu quả hoặc điều trị bảo vệ gan và chống viêm có thể được thực hiện trong giai đoạn viêm gan B. Khi xơ hóa gan xảy ra, điều trị chống xơ hóa được thực hiện.
Đồng thời, theo dõi chặt chẽ định lượng HBV-DNA của virus viêm gan B (chỉ số này có thể phản ánh trực tiếp số lượng virus hiện diện), kê đơn điều trị phù hợp, kiểm soát kịp thời sẽ không phát triển đến tình trạng không thể cứu chữa được.
Nhiều khi, các triệu chứng viêm gan B không rõ ràng, đến rồi đi, kéo dài trong thời gian khác nhau nên nhiều người bỏ lỡ cơ hội điều trị, dẫn đến tình trạng ngày càng xấu đi. Vì vậy, nếu phát hiện cơ thể mình có vấn đề gì thì phải hẹn ngay bác sĩ để được kiểm tra kỹ lưỡng.
Viêm gan B không khủng khiếp như tưởng tượng. Chỉ cần làm tốt hai việc thì sẽ không có cơ hội tận dụng.
cácvắc xin viêm gan Blà biện pháp phòng bệnh quan trọng nhất và giai đoạn sơ sinh là thời điểm tiêm chủng tốt nhất.
Trong vòng 24 giờ sau khi sinh (tốt nhất là trong vòng 12 giờ), tiêm bắp globulin miễn dịch viêm gan B.
Đồng thời, liều vắc-xin viêm gan B đầu tiên được tiêm tại một địa điểm khác, liều thứ hai và thứ ba được tiêm lần lượt vào lúc 1 tháng và 6 tháng sau khi sinh.
Nếu bạn chưa được tiêm phòng khi còn nhỏ thì bây giờ vẫn chưa quá muộn để tiêm vắc xin viêm gan B—cũng là 3 liều. Liều thứ hai cách liều đầu tiên một tháng và liều thứ ba cách liều đầu tiên sáu tháng.
Thời hạn hiệu lực của vắc xin viêm gan B thường là 15 năm. Bạn có thể được kiểm tra thể chất và xét nghiệm máu thường xuyên. Nếu kháng thể bề mặt viêm gan B lớn hơn 10 (giá trị càng cao thì càng tốt), về mặt lý thuyết bạn sẽ không bị viêm gan B nữa, nhưng nếu nhỏ hơn 10 thì có nghĩa là khả năng bảo vệ chưa đủ và bạn cần tiêm vắc xin tăng cường.
Nói chung, việc xét nghiệm bảng điều trị viêm gan B trong vòng 6 tháng sau khi hoàn thành tiêm chủng ba liều có thể xác định liệu việc tiêm chủng có thành công hay không. Nếu không biết mình đã được tiêm phòng hay chưa, bạn cũng có thể nhận được câu trả lời thông qua xét nghiệm viêm gan B.
Kết quả xét nghiệm được phân biệt bằng âm tính và dương tính, và các kết hợp khác nhau thể hiện ý nghĩa khác nhau.
HBsAg (Kháng nguyên bề mặt viêm gan B): Kết quả dương tính cho thấy sự hiện diện của virus viêm gan B trong cơ thể.
HBsAb (Kháng thể bề mặt viêm gan B): Kết quả dương tính cho thấy kháng thể bảo vệ và khả năng miễn dịch với virus.
HBeAg (Kháng nguyên e viêm gan B): Kết quả dương tính cho thấy virus đang hoạt động nhân lên và có khả năng lây nhiễm cao.
HBeAb (Kháng thể điện tử viêm gan B): Kết quả dương tính cho thấy sự nhân lên của virus giảm và khả năng lây nhiễm giảm.
HBcAb (Kháng thể lõi viêm gan B): Kết quả dương tính cho thấy tình trạng nhiễm trùng trong quá khứ hoặc nhiễm trùng ở mức độ thấp hiện tại.
Lo mọi người không hiểu, biên tập viên đã tổ chức kết quả xét nghiệm chung cho các bạn:
Xin chúc mừng, đây là kết quả tốt nhất. Điều đó cho thấy rằng cơ thể không có virus viêm gan B và bạn đã có khả năng miễn dịch với bệnh viêm gan B.
Không bị nhiễm virus viêm gan B nhưng cũng có nghĩa là không có khả năng miễn dịch với virus viêm gan B. Bạn cần có đượcvắc xin viêm gan Bkịp thời để bảo vệ bản thân tốt hơn.
Đề cập đến kháng nguyên bề mặt dương tính, kháng thể E dương tính và kháng thể lõi dương tính. Sự nhân lên của virus ở mức tương đối thấp, nhưng bạn vẫn không thể lơ là cảnh giác và cần kiểm tra thường xuyên. Trong cuộc sống, bạn nên tránh gắng sức quá mức, tránh những thói quen xấu như uống rượu, thức khuya.
Đề cập đến kháng nguyên bề mặt dương tính, kháng nguyên E dương tính và kháng thể lõi dương tính. Vào thời điểm này, kẻ thù mạnh và chúng ta yếu - virus đang nhân lên nhanh chóng và ồ ạt. Bạn cần đến gặp bác sĩ để đánh giá thêm về chức năng gan, tình trạng xơ hóa gan, có khối u gan hay không và được điều trị bằng thuốc chuyên khoa cũng như cải thiện lối sống.
Trước đây, viêm gan B là đám mây đen che phủ đầu người dân Trung Quốc, nhưng giờ đây với sự phát triển kinh tế và đầu tư vào y tế và chăm sóc sức khỏe, những đám mây đó đang dần tan đi và nó đã nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta.
Kiến thức lạnh lùng: Trung Quốc nghiêm cấm xét nghiệm viêm gan B trong kỳ thi tuyển sinh công chức, tuyển sinh trẻ em và khám sức khỏe cho người lớn để ngăn chặn sự phân biệt đối xử tước đoạt quyền học tập và làm việc bình thường của một người. Nếu bạn gặp phải sự đối xử không công bằng, hãy nhớ sử dụng vũ khí hợp pháp để bảo vệ quyền lợi của mình.
Để hạn chế sự hoảng loạn về viêm gan B, chúng ta cần hiểu biết khoa học hơn. Hiện nay, một số người vẫn còn có những quan niệm sai lầm về viêm gan B. Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau thay đổi những quan niệm sai lầm này nhé.
Quan niệm sai lầm 1: Đánh giá mức độ nghiêm trọng của tình trạng dựa trên “Ba tích cực lớn” hoặc “Ba tích cực nhỏ”
Cái mà chúng ta thường gọi là "Ba tích cực lớn" và "Ba tích cực nhỏ" đề cập đến hai kết quả xét nghiệm năm mục viêm gan B. Chúng chỉ có thể phản ánh tình trạng virus viêm gan B trong cơ thể chứ không phải là tiêu chuẩn để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh.
Chẩn đoán và điều trị lâm sàng cũng cần kết hợp các kết quả xét nghiệm khác như chỉ số sinh hóa gan, axit deoxyribonucleic của virus viêm gan B (tức là gen virus viêm gan B), siêu âm màu gan, xét nghiệm xơ hóa gan để phán đoán toàn diện.
Quan niệm sai lầm 2: Trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm viêm gan B đều sẽ bị nhiễm viêm gan B
Việc ngăn chặn bệnh viêm gan B từ mẹ sang con đã đạt được thành công lớn ở Trung Quốc. Trung Quốc đã thúc đẩy toàn diện việc tiêm chủng kết hợp cho trẻ sơ sinh của những bà mẹ có HBsAg dương tính, tức là biện pháp tiêm globulin miễn dịch viêm gan B và vắc xin viêm gan B trong vòng 12 giờ sau khi sinh. Đồng thời, có thể can thiệp kháng virus cho phụ nữ mang thai có tải lượng virus cao ở giai đoạn giữa và cuối thai kỳ. Với việc thực hiện tiêm chủng kết hợp và các biện pháp khác, tỷ lệ bảo vệ trẻ sơ sinh của những bà mẹ nhiễm viêm gan B có thể đạt hơn 95%, nguy cơ lây nhiễm viêm gan B giảm đi rất nhiều. Kết quả khảo sát mới nhất của Trung Quốc cho thấy tỷ lệ lưu hành HBsAg ở các nhóm tuổi 1-4, 5-14 và 15-29 lần lượt là 0,32%, 0,94% và 4,38%. So với năm 1992, chúng giảm lần lượt là 96,7%, 91,2% và 55,1%.
Quan niệm sai lầm 3: Chỉ số chức năng gan bình thường = gan bình thường
Các chỉ số chức năng gan bình thường không có nghĩa là gan không có tổn thương. Nhiều bệnh nhân viêm gan và thậm chí xơ gan có nồng độ transaminase huyết thanh dao động, và một lần kiểm tra có thể không nhất thiết phát hiện ra vấn đề. Ví dụ, khi bệnh nhân xơ gan đang trong giai đoạn bù, chức năng gan cũng có thể hoàn toàn bình thường; một bệnh nhân bị ung thư gan nhỏ có thể có chức năng gan hoàn toàn bình thường. Do đó, chúng ta nên đồng thời tiến hành đánh giá toàn diện tình trạng bệnh thông qua axit deoxyribonucleic của virus viêm gan B (tức là gen virus viêm gan B), alpha-fetoprotein (AFP), xét nghiệm máu, kiểm tra hình ảnh, độ cứng của gan hoặc sinh thiết mô gan.
Điều đáng lưu ý là hàm lượng transaminase tăng cao bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố (chẳng hạn như thuốc, mệt mỏi, uống rượu, v.v.), vì vậy đừng quá lo lắng về việc thỉnh thoảng tăng cao—có thể tiến hành kiểm tra nhiều lần để xác nhận.
Đặc biệt chú ý: Theo ấn bản năm 2022 của "Hướng dẫn phòng ngừa và điều trị viêm gan B mãn tính" mới nhất, trong các tình huống sau đây, ngay cả khi transaminase ở mức bình thường, miễn là axit deoxyribonucleic của virus viêm gan B trong huyết thanh (tức là gen của virus viêm gan B) dương tính thì nên điều trị bằng thuốc kháng vi-rút:
(1) Tiền sử gia đình mắc bệnh xơ gan hoặc ung thư gan;
(2) Tuổi >30;
(3) Các dấu hiệu không xâm lấn hoặc xét nghiệm mô học gan gợi ý tình trạng viêm rõ ràng (G ≥2) hoặc xơ hóa (F ≥2) ở gan;
(4) Các biểu hiện ngoài gan liên quan đến HBV. Ví dụ: viêm thận liên quan đến viêm gan B, v.v. Ngoài ra, những bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng mắc bệnh xơ gan viêm gan B, bất kể mức độ transaminase và HBV DNA cũng như mức độ dương tính của HBeAg, đều được khuyến cáo điều trị bằng thuốc kháng vi-rút.
Quan niệm sai lầm 4: Không có triệu chứng nghĩa là không cần khám sức khỏe định kỳ
Không có triệu chứng không có nghĩa là gan không bị tổn thương. Thông thường, gan có khả năng bù trừ mạnh, bệnh nhân viêm gan B có thể không có triệu chứng rõ ràng. Virus vẫn có thể nhân lên trong gan khi cùng tồn tại với cơ thể con người. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ xảy ra nhiều mức độ xơ hóa, xơ gan, ung thư gan khác nhau.
Virus tồn tại càng lâu thì nguy cơ mắc bệnh xơ gan và ung thư gan càng cao. Chỉ đi khám sức khỏe định kỳ mới có thể điều trị kịp thời khi bị bệnh và phòng ngừa hiệu quả khi khỏe mạnh, từ đó làm giảm đáng kể tình trạng diễn biến xấu của viêm gan B.
Quan niệm sai lầm 5: Không cần theo dõi, theo dõi thường xuyên trong quá trình điều trị
Điều trị viêm gan B mãn tính không phải là giải pháp một lần chỉ bằng thuốc. Cần theo dõi và theo dõi thường xuyên trong quá trình điều trị để hiểu kịp thời hiệu quả của việc điều trị bằng thuốc kháng vi-rút, việc tuân thủ dùng thuốc cũng như tình trạng kháng thuốc và phản ứng bất lợi, từ đó điều chỉnh kế hoạch điều trị cho phù hợp.
Dùng chất tương tự nucleos(t)ide dễ bị kháng thuốc và việc theo dõi kịp thời có thể ngăn ngừa và xử lý tình trạng kháng thuốc; Việc tiêm interferon sẽ gây ra những bất thường về máu, nội tiết, v.v. và việc giảm liều hay ngừng thuốc phải được quyết định tùy theo mức độ nghiêm trọng của phản ứng bất lợi.
Quan niệm sai lầm 6: Alpha-fetoprotein tăng cao nghĩa là ung thư gan đang đến gần
Alpha-fetoprotein (AFP) tăng cao rất quan trọng để sàng lọc sớm ung thư gan, nhưng nó không nhất thiết có nghĩa là ung thư gan khi tăng cao. Ví dụ, AFP cũng có thể tăng cao khi có tình trạng viêm rõ ràng ở gan.
Chẩn đoán lâm sàng ung thư gan cần được thực hiện bằng cách kết hợp các yếu tố nguy cơ cao ung thư gan, đặc điểm hình ảnh và dấu ấn khối u trong huyết thanh.
Quan niệm sai lầm 7: Điều trị bằng thuốc kháng virus không có tác dụng điều trị viêm gan B
Điều trị viêm gan B thường cần dùng thuốc uống dài hạn hoặc điều trị bằng interferon 1-2 năm, khiến một số người nghĩ rằng điều trị bằng thuốc kháng vi-rút không có tác dụng điều trị viêm gan B.
Đối với một số bệnh nhân có điều kiện phù hợp, nên điều trị bằng phương pháp điều trị lâm sàng. Điều trị bằng thuốc kháng vi-rút có thể trì hoãn sự tiến triển của bệnh xơ gan và ung thư gan, đồng thời interferon có nhiều ưu điểm hơn trong việc bảo vệ gan và phòng ngừa ung thư.
Quan niệm sai lầm 8: Bạn có thể tự ngừng thuốc sau khi HBV DNA âm tính
Điều trị bằng thuốc kháng vi-rút cần kết hợp nhiều chỉ số lâm sàng như nồng độ transaminase huyết thanh, DNA vi-rút viêm gan B, năm tiêu chí viêm gan B và xét nghiệm mô bệnh học gan để xác định xem có thể dừng thuốc hay không.
Việc dừng thuốc khi chưa được phép có thể dẫn đến tình trạng kiểm soát virus kém, virus kháng thuốc, bệnh nặng hơn, thậm chí là suy gan gây hậu quả nghiêm trọng. Sau khi HBV DNA chuyển sang âm tính, cần tiến hành điều trị lâm sàng để ngăn ngừa ung thư gan tốt hơn.
Quan niệm sai lầm số 9: Điều trị viêm gan B phải dùng thuốc suốt đời và không thể chữa khỏi!
Nhiều bệnh nhân tin rằng bệnh viêm gan B phải dùng thuốc suốt đời và không thể chữa khỏi hoàn toàn, điều này khiến họ lo lắng. Trên thực tế, ngày càng có nhiều bệnh nhân đạt được phương pháp chữa trị lâm sàng, đạt đến điểm cuối lý tưởng và nhận ra một bước ngoặt trong cuộc đời.
Đối với bệnh nhân viêm gan B, khỏi bệnh lâm sàng có nghĩa là có thể ngừng thuốc lâu dài và các phương pháp xét nghiệm khác nhau không thể phát hiện ra bạn là bệnh nhân viêm gan B.
Một phương pháp chữa khỏi bệnh lâm sàng cần đáp ứng bốn yêu cầu: Thứ nhất, virus HBV-DNA liên tục ở dưới giới hạn phát hiện; khi đó nó còn phải đáp ứng được sự chuyển âm tính của kháng nguyên bề mặt (HBsAg); chức năng gan vẫn bình thường; cuối cùng, các phương tiện khác như siêu âm màu phát hiện rằng không có tổn thương nào khác trong mô học gan—chỉ khi đó nó mới có thể được coi là phương pháp chữa trị lâm sàng.